Xử trí các biến chứng và tai biến truyền máu trong gây mê hồi sức

Xử trí các biến chứng và tai biến truyền máu trong gây mê hồi sức

Truyền máu là việc rất hữu ích cứu được nhiều người qua cơn hiểm nghèo. Nhưng cũng do truyền máu mà có người bị nhiễm bệnh hoặc làm bệnh nặng thêm, thậm chí dẫn đến tử vong. Vì vậy người truyền máu phải nắm vững những tai biến truyền máu để kịp thời xử lý hoặc hạn chế những mặt chưa tốt của truyền máu.

Tai biến truyền nhầm nhóm máu

Nguyên nhân

Do nhầm lẫn giấy tờ hồ sơ (gặp trong đa số trường hợp).

Do kỹ thuật định nhóm máu và làm xét nghiệm phù hợp không tốt.

Triệu chứng

Phản ứng trực tiếp:

Là phản ứng giữa hồng cầu người cho bị vỡ bởi kháng thể có trong huyết tương người nhận trong hệ ABO hoặc Rhésus, xảy ra rất nhanh sau khi truyền được 20-50ml đầu tiên.

Đối với bệnh nhân không mê: Thấy khó thơ,í tức ngực, mặt đỏ hồng, đau thắt lưng dữ dội là dấu hiệu đặc biệt nhất, mạch nhanh, huyết áp hạ. Sau nửa giờ bệnh nhân tiểu đỏ (có huyết sắc tố, có hồng cầu, trụ hạt), tiếp theo (sau 3 giờ) là triệu chứng viêm ống thận cấp tính, bệnh nhân tiểu ít rồi vô niệu. Urê máu tăng cao có thể lên đến 3-4g/l vào ngày thứ 7-8. Nếu điều trị tích cực qua được giai đoạn này thì đến giai đoạn hồi niệu, bệnh nhân đái nhiều, sẽ mất nhiều muối và nước. Sau đó bệnh nhân trở lại bình thường và không để lại di chứng gì.

Đối với bệnh nhân mê: ngoài các triệu chứng như trên thấy: Máu đen đùn ra ở vết mổ và không đông. Tất cả vị trí nào có chọc kim đều có hiện tượng xuất huyết.

Phản ứng gián tiếp:

Là phản ứng giữa huyết thanh người cho và hồng cầu người nhận do truyền máu có kháng thể (, ( nhiều hoặc máu có kháng thể ở chuẩn độ cao (nhóm máu O nguy hiểm). Triệu chứng thường bị vàng da nhẹ, thiếu máu tiêu huyết nhẹ.

Cách phòng

Phân loại máu và làm chứng nghiệm phù hợp tỉ mỉ.

Đối chiếu chai máu và phiếu xin máu.

Thử phù hợp trên lam kính tại giường máu người nhận và chai máu.

Truyền 25-50ml máu đầu tiên cần theo dõi chặt chẽ, tỉ mỉ trạng thái của người được truyền máu.

Xử trí

Nếu có dấu hiệu phản ứng tiêu huyết thì ngưng truyền ngay.

Chống sốc tùy theo tình trạng bệnh nhân mà có xử trí thích đáng.

Biến chứng

Biến chứng sớm

– Các phản ứng dị ứng:

Nguyên nhân: Chưa rõ ràng.

Triệu chứng: Nổi mề đay, phù cứng (phù Quinke), khó thở như hen suyễn, sốt, đau các khớp.

Phòng và xử trí: Không lấy máu ở người hen suyễn, người đang dị ứng. Xử trí bằng các kháng histamin tổng hợp hoặc các corticoide.

– Phản ứng sốt:

Nguyên nhân: Có chất gây sốt trong dụng cụ, trong dung dịch pha truyền hoặc nhiệt độ chai máu còn lạnh đem truyền. Ngoài ra còn có các nhóm phụ loại A của hệ ABO hoặc là các kháng thể chống bạch cầu ở người truyền máu nhiều lần.

Triệu chứng: Sốt, sau đó có cơn rét run dữ dội nhức đầu, nôn mửa… nhiệt độ sẽ giảm dần sau 30 phút đến 1 giờ.

Phòng và xử trí: Đảm bảo vô trùng chai máu và dụng cụ truyền. Xử trí: Dùng các loại hạ sốt và kháng Histamin tổng hợp.

– Quá tải tuần hoàn:

Hay gặp ở người bệnh tim, người già, trẻ sơ sinh, bệnh phổi cấp tính.

– Tắc mạch khí phế quản phổi:

Do không khí tràn vào gây tắc mạch phổi, phế quản do khí.

Truyền máu quá nhiều acide, potassium (K’), Ammonium (NH4).

Máu khó đông.

Vì thiếu calcium và yếu tố đông máu. Cần tiêm Calcium 10% cứ 2ml cho 250ml máu.

– Truyền máu quá lạnh:

Thường xảy ra ở trẻ em do truyền nhanh và số lượng nhiều, máu mới lấy ra ở tủ lạnh, có thể gây lạnh màng tim, có thể dẫn đến ngừng tim hoặc loạn nhịp.

Biến chứng muộn

Những bệnh truyền nhiễm như: Bệnh giang mai, viêm gan do virus, sốt rét. Sida.

Nhiễm sắt do truyền máu quá nhiều: Những người truyền máu nhiều lần nhất là trường hợp thiếu máu mãn tính do đưa một lượng lớn chất sắt vào cơ thể, sau nhiều năm sẽ gây một chứng nhiễm sắc: da sạm, gan bị tổn thương, gan cứng.