Lịch sử Vitamin D

Vitamin D là một nhóm các Secosteroid tan được trong chất béo, có chức năng làm tăng cường khả năng hấp thụ Canxi và Photphat ở đường ruột. Ở người, các hợp chất quan trọng nhất trong nhóm này là Vitamin D3 hay còn được gọi là Cholecalciferol và vitamin D2 (ergocalciferol).

Năm 1914, các nhà nghiên cứu Elmer McCollum và Marguerite Davis phát phiện một chất trong dầu gan cá tuyết (cod liver oil), sau đó được gọi là “vitamin A”. Bác sĩ người Anh Edward Mellanby nhận thấy chó được nuôi với dầu gan cá tuyết không sinh bệnh còi xương (ricket) và kết luận rằng vitamin A, hoặc là một yếu tố rất gần gủi, có thể ngăn ngừa bệnh này. Năm 1922, Elmer McCollum thử nghiệm biến đổi dầu gan cá tuyết bằng cách phá hủy vitamin A. Dầu đã biến đổi này chữa khỏi các con chó bị bệnh, do đó McCollum kết luận rằng yếu tố trong dầu gan cá tuyết đã chữa khỏi bệnh còi xương khác với vitamin A. Ông gọi nó là vitamin D, bởi nó là vitamin thứ tư được đặt tên. Từ ban đầu người ta không biết rằng vitamin D có thể được cơ thể người tổng hợp bằng cách phơi ánh sáng cực tím (ultraviolet – UV), không giống các vitamin khác.

Năm 1925, người ta biết rằng khi 7-dehydrocholesterol được chiếu tia sáng, một dạng vitamin hòa tan trong mỡ được sinh ra (bây giờ được gọi là D3). Alfred Fabian Hess nói: “Ánh sáng tương đương vitamin D.” Adolf Windaus, Đại học Gottingen, Đức, nhận giải Nobel Hóa học năm 1928 nhờ công trình về cấu trúc các sterol và sự liên hệ của chúng với vitamin. Năm 1929, một nhóm tại NIMR ở Hampstead, London đang tìm hiểu về cấu trúc của vitamin D, vẫn còn chưa biết, cũng như các cấu trúc của các steroid. J.B.S. Haldan, J.D. Bernal và Dorothy Crowfoot họp nhau để bàn về các cấu trúc có thể có, góp phần tập họp một nhóm. Chụp tinh thể tia X cho thấy các phân tử sterol phẳng, không như nhóm người Đức do Windaus đưa ra. Năm 1932, Otto Rosenheim và Harold King xuất bản một bài báo đưa ra cấu trúc của các sterol và acid mật, ngay lập tức được chấp nhận. Sự phối hợp học thuật không chính thức giữa các thành viên của nhóm này gồm Robert Benedict Bourdillon, Otto Rosenheim, Harold King và Kenneth Callow rất hiệu quả và đưa đến việc cô lập và định tính vitamin D. Vào lúc này, chính sách của Medical Research Council là không cấp bản quyền các phát minh, họ tin rằng các kết quả của nghiên cứu y học nên được dành cho mọi người miễn phí. Vào những năm 1930, Windaus làm sáng tỏ hơn nữa cấu trúc hóa học của vitamin D.

Năm 1923, nhà hóa học người Mỹ Harry Steenbock ở Đại học Wisconsin chứng minh rằng chiếu tia cực tím làm tăng hàm lượng vitamin D có trong thực phẩm và các chất hữu cơ khác. Sau khi chiếu tia thực phẩm của loài gặm nhấm, Steenbock phát hiện các thú gặm nhấm được chữa khỏi bệnh còi xương. Thiếu vitamin D là một nguyên nhân được biết của bệnh còi xương. Sử dụng 300 USD của riêng mình, Steenbock đăng ký bản quyền cho phát minh của mình. Kỹ thuật chiếu tia của ông được sử dụng cho thực phẩm, được nhớ nhất là cho sữa. Khi bản quyền hết hạn vào năm 1945, bệnh còi xương đã được loại trừ hoàn toàn ở Hoa Kỳ. Năm 1969, sau khi nghiên cứu các mảnh nhân của tế bào ruột, một protein kết nối đặc hiệu cho vitamin được gọi là Thụ thể Vitamin D được Mark Haussler và Tony Norman xác định. Năm 1971-1972, chuyển hóa tiếp tục của vitamin D thành các dạng hoạt động được khám phá. Trong gan, vitamin D được phát hiện biến đổi thành calcifediol. Calcifediol sau đó được thận biến đổi thành calcitriol, dạng hoạt động sinh học của vitamin D. Calcitriol lưu hành như là một hormone trong máu, điều hòa nồng độ calcium và phosphate trong tuần hoàn máu và kích thích sự phát triển lành mạnh và tái tạo xương. Các chất chuyển hóa của vitamin D, calcifediol và calcitriol được xác định bởi hai nhóm cạnh tranh nhau được lãnh đạo bởi Michael F. Holick tại phòng thí nghiệm Hector DeLuca và bởi Tony Norman cùng cộng sự.

 

Theo Wikipedia

Đánh giá bài viết