CHĂM SÓC DA CƠ BẢN CHO BỆNH CHÀM: DƯỠNG ẨM

9 / 100

CHƯƠNG 3  

CHĂM SÓC DA CƠ BẢN CHO BỆNH CHÀM: DƯỠNG ẨM

Bệnh chàm là một tình trạng viêm trong đó hàng rào bảo vệ của  da bị phá vỡ. Filaggrin là một loại protein có vai trò là duy trì  cấu trúc của da và bảo tồn tính toàn vẹn của da thông qua khả năng giữ nước (1). Ở bệnh nhân chàm, filaggrin bị thiếu hụt và  do đó hạn chế khả năng giữ nước của da. Điều này dẫn đến da  bị tổn thương và tạo điều kiện cho việc mất nước và chất béo, do  đó da trở nên “có lỗ thủng”. Kết quả là da tiếp xúc trực tiếp với  các chất gây dị ứng và vi sinh vật, và các phản ứng viêm xảy ra.  Theo thời gian, điều này khiến bệnh chàm có đặc điểm da khô,  ngứa và viêm.

Tầm quan trọng của dưỡng ẩm  

Chất dưỡng ẩm là phương  pháp chính để kiểm soát bệnh  chàm (2). Nó cho phép da giữ lại, phục hồi và phân phối lại  nước tại chỗ. Nó giúp da phục  hồi các lớp bị hư hỏng và hoạt  động như một lớp áo khoác  bảo vệ da bằng cách ngăn vi  khuẩn và các chất gây dị ứng  từ môi trường xâm nhập vào  da (3). Dưỡng ẩm thích hợp  cung cấp cho da các loại dầu  giúp cải thiện hàng rào bảo vệ da và giúp làm mềm da . 

Chất dưỡng ẩm có nhiều dạng  và cách đóng gói khác nhau,  chẳng hạn như dầu, gel, thuốc  mỡ và lotion, mỗi loại đều có  những đặc tính và tác động có  lợi riêng để giảm bớt chàm.  Tính nhất quán, kết cấu, mùi  thơm và tính dễ phân bố đều là  những yếu tố quan trọng như nhau để cho kết quả điều trị hiệu quả.

Cuối cùng, bệnh  nhân và / hoặc người chăm sóc  của họ quyết định loại mà họ ưa thích nhất, vì điều này ảnh  hưởng đến việc tuân thủ điều  trị.

Thành phần cần tìm  

Có một số thành phần được tìm thấy trong chất dưỡng ẩm rất  hữu ích cho bệnh chàm. Đây là một số cần lưu ý khi chọn kem  dưỡng ẩm (2). 

Sử dụng dầu tự nhiên để dưỡng ẩm 

Chất cấp ẩm (Humectants) được biết đến với khả năng tăng cường  độ ẩm cho da. Một số chất cấp ẩm cần tìm là glycerin, axit alpha  hydroxyl, axit hyaluronic và urê 

Chất khoá ẩm (Occlusives) hỗ trợ da bằng cách hoạt động như một rào cản để giảm lượng nước mất đi. Ví dụ như sáp carnauba,  lanolin, bơ hạt mỡ, oxit kẽm và dầu mỏ… 

Các hợp chất khác hoạt động bằng cách lấp đầy những chỗ không  đồng đều và các vết nứt nhỏ trên da, đồng thời hỗ trợ tạo cho da  một kết cấu mịn màng. Một số hợp chất thường được sử dụng là  axit stearic, collagen và bột yến mạch dạng keo. 

Tương tự, có một số thành phần nên tránh do có thể gây kích ứng  da và làm trầm trọng thêm các đợt bùng phát bệnh chàm. Một số thành phần này bao gồm một số loại tinh dầu, sodium lauryl  sulphate, rượu acetyl, paraben và chất tạo mùi hương (2).

Việc sử dụng rộng rãi các loại dầu tự nhiên cho bệnh chàm đã  được công nhận nhiều hơn trong những năm gần đây. Hai loại  tinh dầu tự nhiên chính là tinh dầu cố định và tinh dầu thiết yếu.  Chúng được phân loại dựa trên cách chúng được xử lý. Dầu cố 

định có thể được chia thành các loại dầu nonvirgin, nguyên chất  hoặc đặc biệt. Dầu nonvirgin được chế biến nhiều nhất và được  tinh chế bằng cách áp dụng nhiệt và hóa chất. 3 Dầu nguyên chất  được ép lạnh, và độ axit của chúng tăng lên một chút so với dầu  nguyên chất cũng được ép lạnh và hoàn toàn không tinh chế. 

DẦU ÉP LẠNH, NGUYÊN  CHẤT 

  • Thường được sử dụng để pha loãng 
  • Quá trình chiết xuất được  thực hiện mà không cần  thêm nhiệt độ 
  • Không bay hơi ở nhiệt độ phòng 
  • Không bổ sung nhiệt hoặc  hóa chất trong quá trình  chiết xuất 

TINH DẦU 

  • Thường được trộn với một  loại dầu nền để ngăn ngừa  kích ứng 
  • Được sản xuất bằng cách  thêm nhiệt độ (3) 
  • Bốc hơi ở nhiệt độ phòng
  • Có thể chứa chất tạo mùi  (4)

Dầu tự nhiên ổn định 

Dầu hạt hướng dương và dầu  dừa là hai loại dầu tự nhiên ổn  định. Dầu hạt hướng dương  đã được chứng minh là có đặc  tính chống viêm và sửa chữa  hàng rào bảo vệ da (3,5). 

Một nghiên cứu đã chứng  minh rằng dầu hướng dương  có kết quả tốt hơn trên da so  với dầu ô liu (6). Hơn nữa,  một nghiên cứu khác với 86  bệnh nhi đánh giá dầu hướng  dương có hiệu quả khi dùng  kết hợp với corticosteroid. 

Dầu dừa được sử dụng rộng rãi  trong chăm sóc da. Monolaurin là  một axit béo được tìm thấy trong  dầu dừa và được sử dụng như một chất chống oxy hóa và kháng  khuẩn ở những bệnh nhân bị bệnh chàm. 

Một nghiên cứu mù đôi trên 117  trẻ em bị bệnh chàm so sánh việc  sử dụng dầu dừa với dầu khoáng  (thành phần chính của “baby  oil”) trong 8 tuần (8). Mặc dù cả hai nhóm đều chứng minh sự cải  thiện, dầu dừa được cho là tốt  hơn dầu khoáng khi dùng trên  toàn cơ thể.

Thận trọng với dầu tự nhiên 

Mặc dù có những lợi ích khi sử dụng dầu tự nhiên, nhưng điều  quan trọng là lưu ý một số yếu tố có thể làm bùng phát bệnh  chàm. Ví dụ, dầu ô liu chứa axit có tác động tiêu cực đến hàng  rào bảo vệ da. Một nghiên cứu đã so sánh việc sử dụng dầu ô liu  so với dầu hướng dương ở 19 tình nguyện viên có và không bị chàm khi họ được yêu cầu thoa 6 giọt dầu ô liu trên một cánh  tay và 6 giọt dầu hướng dương trên cánh tay còn lại, hai lần mỗi  ngày trong 5 tuần (6). Nghiên cứu cho thấy việc thoa dầu ô liu  đã gây kích ứng da, gây mẩn đỏ và làm giảm tính toàn vẹn của  hàng rào bảo vệ da, do đó có khả năng gây ra và làm trầm trọng  thêm bệnh chàm. Ngược lại, dầu hướng dương bảo tồn tính toàn  vẹn của hàng rào bảo vệ da, không gây mẩn đỏ và cải thiện độ ẩm cho da ở những tình nguyện viên tương tự. 

PATCH TEST 

Thử một vùng da nhỏ với loại dầu đang quan tâm và đợi ít nhất  48 giờ để xem liệu nó có gây kích ứng hoặc dị ứng hay không,  trước khi thoa lên một vùng da lớn hơn trên cơ thể.

Giữ ẩm như là biện pháp phòng ngừa 

Các hướng dẫn đã cho thấy tầm quan trọng của việc dưỡng  ẩm, không chỉ đối với bệnh  nhân chàm mà cả những người  không bị ảnh hưởng. Khuyến  cáo rằng chất dưỡng ẩm được  tự do thoa lên da mỗi ngày với  một lượng vừa đủ. Đối với  bệnh nhân chàm, các hướng  dẫn khuyến cáo thoa kem  dưỡng ẩm ngay sau khi tắm (9). 

Lợi ích của việc sử dụng chất dưỡng ẩm trong đợt bùng phát chàm và trong giai đoạn không  hoạt động đã cho thấy những  kết quả đầy hứa hẹn. Nhưng  chất dưỡng ẩm có thể làm  giảm khả năng mắc bệnh  chàm trước khi nó bắt đầu  không? 

Một nghiên cứu được thực hiện  trên 124 trẻ sơ sinh có nguy cơ cao có tiền sử gia đình mắc  bệnh chàm (10). Các cha mẹ bôi dưỡng ẩm cho trẻ sơ sinh  trong vòng 3 tuần đầu sau  sinh, hàng ngày trong 6 tháng tiếp theo. 

Việc sử dụng kem dưỡng ẩm  làm giảm đáng kể nguy cơ phát  triển bệnh chàm ở trẻ sơ sinh  có nguy cơ cao lên đến 50%  (10,11).

KẾT LUẬN

Tóm lại, việc thoa dưỡng ẩm cho cả da bình thường và da đang  bùng phát bệnh đều hỗ trợ duy trì độ ẩm và tính toàn vẹn của da,  do đó ngăn ngừa sự bay hơi nước và sự xâm nhập của các chất  gây kích ứng, dị ứng và nhiễm trùng (10). Cuối cùng, mục tiêu  của việc sử dụng dưỡng ẩm là giảm đáp ứng viêm của da, dẫn  đến giảm cường độ và thời gian của ngứa và bùng phát ở trẻ em  bị chàm.

 Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ 

  1. Kezic S, Jakasa I. Filaggrin and Skin Barrier Function. Curr Probl Dermatol.2016;49:1- 7. 
  2. Giam YC, Hebert AA, Dizon MV, et al. A review on the role of moisturizers for atopic  dermatitis. Asia Pac Allergy.2016;6(2):120-128. 
  3. Vaughn AR, Clark AK, Sivamani RK, et al. Natural Oils for Skin-Barrier Repair: Ancient  Compounds Now Backed by Modern Science. Am J Clin  Dermatol.2017;10.1007/s40257-017- 0301-1 
  4. Draelos ZD, Matsubara A, Smiles K. The e ect of 2% niacinamide on facial sebum  production. J Cosmet Laser Ther.2006;8(2):96-101. 
  5. Goddard AL, Lio PA. Alternative, Complementary, and Forgotten Remedies for Atopic  Dermatitis. Evid Based Complement Alternat Med.2015;2015:676897. 
  6. Danby SG, AlEnezi T, Sultan A, et al. E ect of olive and sun ower seed oil on the adult  skin barrier: implications for neonatal skin care. Pediatr Dermatol.2013;30(1):42-50. 
  7. Msika P, De Belilovsky C, Piccardi N, et al. New emollient with topical corticosteroid sparing e ect in treatment of childhood atopic dermatitis: SCORAD and quality of life  improvement. Pediatr Dermatol.2008;25(6):606-612. 
  8. Evangelista MT, Abad-Casintahan F, Lopez-Villafuerte L. The e ect of topical virgin  coconut oil on SCORAD index, transepidermal water loss, and skin capacitance in mild  to moderate pediatric atopic dermatitis: a randomized, double-blind, clinical trial. Int J  Dermatol.2014;53(1):100-108. 
  9. Eichen eld LF, Tom WL, Berger TG, et al. Guidelines of care for the management of  atopic dermatitis: section 2. Management and treatment of atopic dermatitis with topical  therapies. J Am Acad Dermatol.2014;71(1):116-132. 
  10. Simpson EL, Chalmers JR, Hani n JM, et al. Emollient enhancement of the skin barrier  from birth o ers e ective atopic dermatitis prevention. J Allergy Clin  Immunol.2014;134(4):818-823. 
  11. Horimukai K, Morita K, Narita M, et al. Application of moisturizer to neonates prevents  development of atopic dermatitis. J Allergy Clin Immunol.2014;134(4):824-830 e826.

 Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ